(GD&TĐ) - Tôi đề nghị :- Cần thấy rõ vai trò có tính quyết định của lực lượng cán bộ quản lí giáo dục trong sự nghiệp giáo dục của chúng ta. Vì vậy cần thay từ “quan trọng” bằng từ “quyết định” trong...
| PGS.TSKH Nguyễn Nghĩa Trọng. Ảnh: Nguyễn Nhung |
Thực tiễn đời sống có những biến chuyển, đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục hiện hành.
Đọc dự thảo “ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục”, tôi (PGS.TSKH Nguyễn Nghĩa Trọng - PV) có một số nhận xét:
Trong 120 điều của Luật 2005 nay sửa đổi, bổ sung 10 điều gồm 26 khoản, bãi bỏ 01 khoản ( khoản 6 Điều 43). Đó là các điều “ Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục”, “ Đầu tư cho giáo dục”, “ Cán bộ quản lý giáo dục”, “Trường của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân”, “ Điều kiện thành lập nhà trường và điều kiện để được cho phép hoạt động giáo dục”, “ Thỉnh giảng”, “ Cơ sở giáo dục thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục”, “ Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ” ( Trong “Chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục” ), “Nội dung quản lý nhà nước về kiểm định chất lượng giáo dục”, “ Nguyên tắc kiểm định chất lượng giáo dục”, “ Tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục độc lập”, “ Hợp tác về giáo dục với Việt Nam”.
Có thể thấy đây là nỗ lực nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng nhu cầu hiện đại hóa, công nghiệp hóa đất nước và yêu cầu hội nhập Quốc tế. Điểm 2, Điều 6 yêu cầu bổ sung “ tính thực tiễn, hợp lý” của chương trình giáo dục bên cạnh “ tính hiện đại, tính ổn định, tính thống nhất”, “ Kế thừa giữa các cấp học và trình độ đào tạo...”; xác định rõ đó là “ cơ sở bảo đảm chất lượng giáo dục toàn diện; đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế”. Tính thức tiễn , hợp lý của chương trình sẽ khắc phục tình trạng nặng kiến thức lý thuyết, nhiều khi vô bổ, coi nhẹ ứng dụng thực hành đã tồn tại nhiều năm trong chương trình các cấp .
Muốn năng cao chất lượng giáo dục sau việc xác định phương hướng, mục tiêu, chương trình thì phải lo đầu tư cơ sở vật chất và nâng cao nhân lực quản lý giáo dục và giảng dạy. Điểu 13 xác định “ Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”, là “hoạt động đầu tư đặc thù”, “ được ưu đãi, ưu tiên” khuyến khích và bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của các lực lượng đầu tư. “ Ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực đầu tư cho giáo dục”. Đây là định hướng đúng phù hợp với bản chất chế độ ta.
Bên cạnh đầu tư tiền của là phải lo đầu tư, nâng chất lượng cán bộ quản lý giáo dục và người giảng dạy. Chỗ yếu lâu nay của giáo dục nước nhà có nguyên nhân từ lực lượng quản lý (t nh hình giáo dục và đào tạo thiếu ổn định, quá nhiều cải tiến , đổi mới từ chữ viết đến sách giáo khoa mà hiệu quả quá thấp, việc thi cử, phân ban còn nhiều bất cập, giáo dục từ xa chất lượng kém, trường Đại học các tỉnh mở nhiều nhưng không có đủ cán bộ giảng dạy đúng yêu cầu, gia đình học sinh phải đóng góp nhiều khoản lệ phí, dạy thêm học thêm tràn lan...). Bản dự thảo dành 16 khoản sửa đổi, bổ sung trong 5 điều về “ cán bộ quản lý giáo dục, về các loại trường, điều kiện thành lập trường và được phép hoạt động giáo dục, về “thỉnh giảng” và “ cơ sở giáo dục thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục” .
Trong số 16 khoản kể trên, có những khoản hoàn toàn mới như khoản 3 điều 29 quy định : “ Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo quy định tiêu chuẩn sách giáo khoa, việc biên soạn sách giáo khoa, việc chọn sách để dạy thí điểm, tổ chức dạy thí điểm, lấy ý kiến đóng góp của nhà giáo, nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục, hội nghề nghiệp, học sinh ; việc thẩm định, duyệt và quyết định chọn sách để sử dụng làm sách giáo khoa...”; “ Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo cho phép hoạt động giáo dục đối với cơ sở giáo dục đại học; quy định cụ thể điều kiện, thời hạn và thẩm quyền cho phép hoạt động giáo dục đối với nhà trường ở các cấp học và trình độ đào tạo”. Quyền hạn và trách nhiện của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo được quy định rõ ràng hơn trước trong các khoản của điều luật.
Còn “ Ủy ban nhân dân các cấp thức hiện quản lý nhà nước về giáo dục theo sự phân cấp của chính phủ, trong đó có việc quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục; kiểm tra việc chấp hành luật pháp về giáo dục của tất cả các cơ sở giáo dục trên địa bàn; có trách nhiệm đảm bảo các điều kiện về đội ngũ nhà giáo, tài chính, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của các trường công lập thuộc phạm vi quản lý; phát triển các loại hình trường, thực hiện xã hội hóa giáo dục; đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục tại địa phương” ( Khoản 4 điều 100). Đây cũng là điều mới quy định rõ trách nhiệm của các Ủy ban nhân dân. Một điều nữa hoàn toàn mới là mục 2a “ kiểm định chất lượng giáo dục” qui định “Nội dung về quản lí nhà nước về kiểm định chất lượng giáo dục” (điều 106a), “Nguyên tắc kiểm định chất lượng giáo dục” (điều 106b), “Tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục độc lập” (điều 106c). Những điều này tạo điều kiện đánh giá đúng chất lượng giảng dạy, đào tạo; giúp chúng ta khắc phục các điểm yếu kém trong thực trạng lâu nay. Việc tổ chức kiểm định độc lập là một biểu hiện của tính dân chủ, công khai minh bạch trong giáo dục nói riêng và đời sống xã hội nói chung.
Điều 109 nói về “Hợp tác về giáo dục với Việt Nam” ở khoản 2 và 3, xác định rõ “Cơ sở giáo dục có sự tham gia đầu tư của nước ngoài phải bảo đảm giáo dục người học về nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân, thực hiện mục tiêu giáo dục, yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục phù hợp với mỗi cấp học , trình độ đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân”; “Chính phủ qui định việc hợp tác, đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục...”. Như vậy là đảm bảo được chủ quyền và chủ động của nhà nước ta trong hội nhập quốc tế.
Những phần nói trên là cái mới rất quan trọng của Luật sửa đổi lần này. Đó cũng là những ưu điểm rất đáng hoan ngênh.
Tôi đề nghị :- Cần thấy rõ vai trò có tính quyết định của lực lượng cán bộ quản lí giáo dục trong sự nghiệp giáo dục của chúng ta. Vì vậy cần thay từ “quan trọng” bằng từ “quyết định” trong điều 16 ở câu “Cán bộ quản lí giáo dục giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức, quản lí, điều hành hoạt động giáo dục”.
- Ở khoản 4 điều 38 có nói thời gian đào tạo tiến sĩ có thể được kéo dài “không quá bốn năm”. Như vậy đối với người có bằng tốt ngiệp đại học được đào tạo tiến sĩ theo quy định được đào tạo trong bốn năm có thể kéo dài thành tám năm; người có bằng thạc sĩ được đào tạo tiến sĩ trong ba năm có thể thành bảy năm. Có đúng vậy không ? Nếu vậy thì quá dài, nên tính toán lại cho hợp lí hoặc diễn đạt cho đúng ý của ban sửa đổi.
PGS, TSKH Nguyễn Nghĩa Trọng
- Chung kết Liên hoan phim dành cho học sinh phổ thông toàn quốc (17/10)
- Không nên phủ định nền giáo dục bằng cái nhìn phiến diện, sai lệch (17/10)
- Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Nguyễn Thị Nghĩa kiểm tra công tác triển khai nhiệm vụ năm học mới (17/10)
- Hà Nội: Có thể đưa khoản thu thỏa thuận vào nội dung thu học phí (16/10)
- Góp ý dự thảo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật GD (16/10)
- Kỷ niệm 10 năm thành lập Trung tâm Giáo dục quốc phòng (16/10)
- Hội nhập Quốc tế trong giáo dục ĐH Việt Nam – Vương quốc Anh (16/10)
- “Muốn học sinh thanh lịch, trước hết nhà giáo phải mẫu mực” (16/10)
- Nâng cao chất lượng cho giáo viên vùng khó (16/10)
- Giải pháp nào để giảng viên nghiên cứu khoa học có hiệu quả (15/10)