Cập nhật lúc 29/10/2009, 17:27 (GMT+7)
Dự thảo sửa đổi và bổ sung một số điều của Luật Giáo dục
Những nội dung được quan tâm nhất dự thảo Luật GD

(GD&TĐ) - Trong quá trình triển khai thực hiện Luật giáo dục năm 2005 đã nảy sinh một vài điểm chưa thực sự phù hợp với tình hình thực tiễn, một số nội dung cần sửa đổi, bổ sung cho rõ ràng hơn, dễ hướng dẫn, dễ thực hiện.

Những sửa đổi, bổ sung này nhằm làm cho Luật phù hợp hơn với tình hình thực tế, tạo cơ sở cho việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, thực hiện chế độ chính sách đối với người học, thực hiện phân cấp quản lý mạnh mẽ hơn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục đồng thời bảo đảm quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục. Trong bối cảnh Việt Nam mở cửa, tham gia hội nhập ngày càng sâu rộng vào các quan hệ kinh tế thế giới, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục nhằm bảo đảm sự phù hợp của pháp luật Việt Nam với các cam kết quốc tế, các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc là thành viên, sự tương đồng giữa Luật giáo dục của Việt Nam với Luật giáo dục của nhiều nước trên thế giới, quản lý tốt hơn các hoạt động hợp tác, đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục. Một số nội dung sửa đổi bổ sung được quan tâm thảo luận nhiều bao gồm phân cấp thẩm quyền, thành lập nhà trường, chất lượng đào tạo trình độ Tiến sĩ, việc học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người đã tốt nghiệp đại học, công khai trong hoạt động của cơ sở giáo dục...

Về thành lập trường, dự án đề nghị sửa Điều 50 quy định về điều kiện thành lập và điều kiện để được cho phép hoạt động giáo dục để có hành lang pháp lý rõ ràng, phù hợp với yêu cầu cải cách hành chính. Để cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập trường thì Đề án thành lập trường phải phù hợp quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục; xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, chương trình và nội dung giáo dục; tổ chức bộ máy, nguồn lực và tài chính; phương hướng chiến lược xây dựng và phát triển nhà trường. Quy định tại Điều 50 áp dụng chung cho các cấp học và trình độ đào tạo, không chỉ cho trường đại học. Sửa đổi, bổ sung Điều 50 của Luật theo hướng trên đáp ứng được yêu cầu đảm bảo chặt chẽ hơn trong việc thành lập trường, giải quyết được những vướng mắc trong thành lập trường hiện nay, đảm bảo nâng cao chất lượng giáo dục, tạo điều kiện chấn chỉnh, sắp xếp lại hệ thống các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân, khắc phục tình trạng thành lập mới ở những nơi, những lĩnh vực không có nhu cầu hoặc cơ sở giáo dục được phép hoạt động, tuyển sinh nhưng không đủ điều kiện về đội ngũ cán bộ giảng dạy, cơ sở vật chất, trang thiết bị. 

Giao thẩm quyền quyết định thành lập trường và cho phép thành lập trường đại học cho Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ xác định rõ ràng hơn trách nhiệm của Bộ trưởng. Thủ tướng Chính phủ ban hành chiến lược phát triển giáo dục, quy hoạch mạng lưới các trường đại học và điều kiện, trình tự, thủ tục thành lập trường đại học, trên cơ sở đó Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định thành lập, cho phép thành lập đối với từng trường đại học. Thủ tướng Chính phủ tập trung vào việc quản lý, điều hành vĩ mô, quy định về việc thành lập trường đại học và phê duyệt mạng lưới trường đại học. Trong quy trình thành lập trường đại học không chỉ riêng Bộ Giáo dục và Đào tạo mà có sự tham gia của nhiều bộ, ngành khác như Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi trường đặt trụ sở chính. Bộ Giáo dục và Đào tạo đang chỉ đạo triển khai thực hiện cơ chế bắt buộc công khai hoạt động của cơ sở giáo dục, mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội đều có thể kiểm soát được việc thành lập trường và hoạt động của nhà trường.

Xung phong trả lời bài (ảnh Internet)

Dự án Luật sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 38 chủ yếu là về thời gian đào tạo, cũng là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo chất lượng đào tạo. Việc sửa đổi, bổ sung quy định về thời gian như Dự án Luật vừa đảm bảo yêu cầu chặt chẽ nghiêm túc về khoa học, đồng thời đảm bảo tính linh hoạt để xử lý những tình huống cụ thể theo đúng quy định của pháp luật. Điều kiện bảo vệ luận án tiến sĩ cần được quy định chi tiết trong quy chế đào tạo trình độ tiến sĩ. Quy chế đào tạo trình độ tiến sĩ ban hành kèm theo Thông tư số 10/2009/TT-BGDĐT ngày 07/5/2009 quy định về điều kiện bảo vệ luận án tiến sĩ với mục tiêu đảm bảo chất lượng của luận án. Một luận án tiến sĩ để được bảo vệ phải đáp ứng được các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 31 Thông tư số 10/2009/TT-BGDĐT và được xem xét bởi hội đồng khoa học đánh giá luận án cấp cơ sở và hội đồng đánh giá luận án cấp trường, viện với các quy định về trình tự, thủ tục chặt chẽ, cụ thể.

Để đáp ứng nhu cầu học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người đã tốt nghiệp đại học làm việc ở một số ngành đòi hỏi phải đáp ứng các yêu cầu đặc thù đối với một số vị trí công việc nhất định, Dự án Luật đã sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản 4 Điều 38 “Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quy định cụ thể việc học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người đã tốt nghiệp đại học, với sự tham gia đào tạo của cơ sở giáo dục đại học”.

Đại học, học viện và trường đại học đều là cơ sở giáo dục đại học và đều được gọi là “nhà trường”. Việc gọi đại học, học viện như là 01 loại trường đại học là hoàn toàn phù hợp với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và thực tiễn, các trường đại học, học viện, trường đại học đều thực hiện mục tiêu nhiệm vụ của giáo dục đại học, đều đào tạo và cấp văn bằng đối với 4 trình độ được đào tạo: cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ. Nếu đại học không phải là "trường" thì sẽ phải sửa đổi Điều 69 của Luật theo hướng xếp đại học và học viện không phải là “nhà trường” mà là “cơ sở giáo dục khác”.

Để quản lý chất lượng giáo dục thì công khai trong hoạt động của cơ sở giáo dục là một trong những yếu tố quan trọng nhất. Ngày 07/5/2009 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 09/2009/TT-BGDĐT ban hành Quy chế thực hiện công khai đối với cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân trong đó quy định cụ thể hình thức, nội dung, thời điểm công khai phù hợp với nhà trường ở mỗi cấp học và trình độ đào tạo như đã nêu trên, coi đây là giải pháp đột phát mang tính bước ngoặt trong quản lý nhà nước về giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.

Nhằm khẳng định vai trò kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về quản lý giáo dục của các cơ sở giáo dục trên địa bàn là trách nhiệm chủ yếu của uỷ ban nhân dân các cấp, Dự án Luật dự kiến sửa đổi, bổ sung khoản 4 của Điều 100 theo hướng Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục theo sự phân cấp của Chính phủ, trong đó có việc quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục; kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục của tất cả cơ sở giáo dục trên địa bàn; có trách nhiệm đảm bảo các điều kiện về đội ngũ nhà giáo, tài chính, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của các trường công lập thuộc phạm vi quản lý; phát triển các loại hình trường, thực hiện xã hội hoá giáo dục; đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục tại địa phương.

Thông báo số 242/TB-TƯ thông báo kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII), phương hướng phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020 chỉ rõ: " Giáo dục trong thời kỳ hội nhập quốc tế càng cần phải bảo đảm phát triển bền vững, không ngừng nâng cao chất lượng, phát huy tối đa nội lực, giữ vững độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước tiếp cận nền giáo dục tiên tiến thế giới. Mở rộng hợp tác đào tạo đa phương gắn với việc tăng cường công tác quản lý nhà nước." Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật giáo dục tạo hành lang pháp lý để thực hiện có hiệu quả định hướng phát triển trên đây.

PGS.TS. Chu Hồng Thanh
(Vụ trưởng Vụ Pháp chế - Bộ GD& ĐT)
,
,
,